Địa Tạng Vương Bồ Tát

Thứ Ba, 29/11/2016

Đức Địa tạng Vương Bồ tát là vị Bồ-tát được tôn thờ trong Phật giáo Đông Á, nguyện cứu độ chúng sinh trong lục đạo luân hồi, văn khấn Ngài khi vào chùa...

Bồ tát Địa Tạng là vị Bồ tát có nhân duyên sâu nặng với chúng sanh trong thế giới Ta bà. Ngài là vị Bồ tát được Đức Phật giao phó trọng trách làm giáo chủ cõi Ta bà trong khoảng thời gian Đức Thế Tôn nhập diệt.
dia-tang-vuong-bo-tat
Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát hiện thân ở muôn ngàn số kiếp và hằng hà sa số thế giới để tận độ tất cả chúng sanh điều được giải thoát, chứng an vui Niết Bàn dứt khỏi trầm luân hồi đau khổ. Ngài là tấm gương soi sáng từ bi bác ái độ tận các vong hồn sa đọa nơi cõi Địa Ngục. Ngài không cảm thấy sự vui thú giữa cuộc đời khi mà vòng Sanh Tử vẫn tiếp diễn chúng sanh chưa ra khỏi tam giới. Tâm nguyện độ sanh của Ngài vững chắc như núi cao, công hạnh lợi ích nhân thiên rộng sâu như biển cả.

Lời huyền ký niềm tin tưởng vững chắc của Đức Phật đối với Bồ tát Địa Tạng, bởi Phật biết rằng trong giai đoạn "tiền Phật-hậu Phật" này, khi Phật pháp ngày càng suy vong, chúng sanh cang cường khó độ, thì chỉ có bi tâm, nguyện lực kiên cố như Bồ tát Địa Tạng mới có thể kham lãnh nổi việc giáo hóa độ sanh, nguyện lực kiên cố của Bồ tát luôn thị hiện tâm bao la trời biển, đức trang nghiêm thanh tịnh Minh châu sói sáng phá tan bao phiền muộn nghiệp chướng.

 

 

Bồ tát thường tùy nguyện ứng hiện vào thế giới Ta bà bằng nhiều hình tướng sai khác để hóa độ chúng sanh. Ngài qua hình ảnh thân tướng trang nghiêm, tay phải cầm tích trượng, tay trái cầm hạt minh châu, đầu đội mũ tỳ lư quán đảnh, đứng hoặc ngồi trên con Đế thính. Sở dĩ Ngài hiện thân do vì bản nguyện của Ngài là cứu độ chúng sanh ra khỏi cảnh giới sanh tử, nên hình ảnh Ngài.

Tay phải cầm tích trượng, trên đầu tích trượng có mười hai khoen để nói lên ý nghĩa Ngài luôn dùng pháp Thập nhị nhân duyên để giáo hóa chúng sanh. Tay trái Bồ tát cầm hạt minh châu biểu thị trí tuệ. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn thường soi sáng tất cả chốn u minh khiến cho chúng sanh hiện đang bị giam cầm trong ngục tối trông thấy ánh sáng đều được thoát ngục hình. Bồ tát cỡi con Đế thính là con linh thú, khi mọp xuống đất trong giây lát thì biết rõ tất cả sự vật trong trời đất, biểu trưng cho Ngài là vị đã nhiếp tâm thanh tịnh, an lập các pháp thức thành tựu cảnh giới thiền định.

Tiền thân hành Bồ tát đạo của Ngài.

Có kiếp Bồ tát là con một vị trưởng giả, vì muốn được thân tướng trang nghiêm tốt đẹp như chư Phật mà phát thệ nguyện độ tất cả chúng sanh bị khổ nạn.

Hoặc có kiếp Ngài làm một cô gái dòng Bà la môn, có người mẹ bất tín Tam bảo, không tin nhân quả, Ngài đã thành tâm cầu thỉnh Phật cứu độ thân mẫu.

Có kiếp Ngài làm vua một nước nhỏ kết bạn với vua nước lớn, hai vua thấy nhân dân làm ác mà phát thệ nguyện độ tận nỗi khổ chúng sanh.

Có kiếp Ngài làm cô gái Quang Mục, vì muốn cứu độ mẹ thoát địa ngục mà phát tâm cúng dường vị La hán và phát đại thệ nguyện độ sanh để dẫn dắt mẹ từ cảnh địa ngục vào đạo Bồ đề.

Tiền thân trong khi hành Bồ tát đạo, phát thệ nguyện cứu khổ chúng sanh, hạnh nguyện vĩ đại của Ngài. Hạnh nguyện nổi bật đó không ngoài hai điểm yếu tố nhân duyên: tinh thần hiếu đạo và tâm nguyện độ tận pháp giới chúng sanh.

Bồ tát Địa Tạng trong khi hành Bồ tát đạo đã phát thệ nguyện vĩ đại. “Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề. Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”. Bồ tát với trí tuệ rộng lớn như hư không và lòng từ bi bao la ngập tràn như đại dương vô tận, Ngài luôn thấy tất cả chúng sanh là cha mẹ trong hiện tại và chư Phật trong vị lai.

Vì thế, trong khi hành Bồ tát đạo, Ngài đã phát thệ nguyện độ hết nỗi khổ chúng sanh, khi nào trên cuộc đời này không còn một chúng sanh đau khổ, đều thành tựu Phật đạo thì Ngài mới yên tâm thọ dụng cảnh giới Niết bàn, hạnh nguyện độ sanh vô lượng vĩ đại của Ngài. “Chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề. Địa ngục vị không thệ bất thành Phật”. Có phát lập được thệ nguyện như thế, mới có thể biến Ta bà thành Tịnh độ, khiến tất cả phàm phu đều thành tựu quả vị Vô thượng Bồ đề và để báo đáp thâm ân của Ngài trong muôn một.