Cung phi và cung mệnh

Thứ bảy, 11/03/2017

Cung phi và cung mệnh là gì? Nguồn gốc ra đời và ý nghĩa của cung phi, cung mệnh đối với làm ăn, hợp tác, số mệnh như thế nào?...

1. Nguồn gốc cung phi và cung mệnh

 

Thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” là một thuyết của các học giả Trung Hoa. Nó ra đời cách nay hàng nghìn năm ở Trung Quốc.

 

Thuyết này có nội dung bàn đến nhiều vấn đề mà cuộc sống con người đều liên quan. Những vấn đề này đều dựa trên cơ sở hai học thuyết Âm Dương và thuyết Ngũ Hành của Trung Quốc. Nó cũng đồng thời vận dụng cả các kiến giải của Chu Dịch - ta thường gọi là “Kinh dịch” theo quan niệm các “Quẻ”, dịch và các phép phong thuỷ khác nữa.

 

2. Các vấn đề thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” đề cập là gì?

 

Thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” đề ra những nguyên tắc về hôn phối, cưới hỏi, về hợp tác, về phương hướng làm ăn, buôn bán, nhà đất...

 

Đặc biệt thuyết này bàn sâu các phép của kiến thức phong thuỷ trong xây cất và tu tạo nhà cửa, nó cũng bàn việc đặt để mồ mả v.v...

 

Ta sẽ tham khảo thêm “Bát Cẩm Trạch” (tám hướng phương vị tốt, xấu) của thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” theo quan điểm này ta không còn bị gò bó về tìm hướng tốt theo tuổi của mình (chủ nhân chính). Khi ta muốn chọn một thửa đất để xây nhà hay mua nhà xây sẵn; hoặc ta làm nhà máy, văn phòng, cửa hàng kinh doanh v.v... ta cần áp dụng phương pháp của thuyết “Tam Ngươn Cung Phi”.

cung phi và cung mệnh

3. Thuyết “Tam Ngươn Cung Phi”

 

Cho rằng mỗi người sinh ra trong một năm có đủ can chi nào đó sẽ ứng với một “quẻ” trong “Bát Quái” (theo Kinh Dịch). Người ta biệt giải thành các quẻ trong “Bát Cẩm Trạch”.

 

Thuyết “Tam Ngươn Cung Phi” nói về “Bát Cẩm Trạch” (Tám hướng phương vị tốt xấu) có chia 4 phương thành “8 hướng, phương vị”; Bắc, Đông - Bắc; Đông, Đông - Nam; Nam, Tây - Nam; Tây và Tây - Bắc với “8 hướng phương vị”, mỗi phương vị có 45o la bàn. Trong mỗi phương vị đó ứng với một “Quẻ” cho một tuổi can chi nhất định có ba phương vị tốt.

 

Đó là:

+ Phương vị Sinh Khí
+ Phương vị Phúc Đức
+ Phương vị Thiên Y

- Một phương vị nửa tốt, nửa xấu.

Đó là:

+ Phương vị Phục Vị
- Hai phương vị xấu.

Đó là:

+ Phương vị Ngũ Quỷ
+ Phương vị Họa Hại
- Hai phương vị rất xấu.

Đó là:

+ Phương vị Tuyệt Mệnh
+ Phương vị Lục Sát

 

Nhà hướng Dậu, Huyền Quan nên mở ở hướng Đông - Nam, cũng có thể mở ở hướng Đông.

 

Như vậy với “Bát Cẩm Trạch”, ta có thể mở rộng thêm cách tìm một hướng phương vị cho Huyền Quan (cửa chính - mặt tiền) so với phương pháp tìm trong “hướng nhà” chung chung cho 1 tuổi theo hàng Chi đơn thuần đã đề cập ở Chương I trên.

 

Trong “Tám phương vị tốt xấu” ta tính thật chi tiết thêm cho một tuổi có đủ Can Chi với phương vị rộng mở hơn. Nó giúp ta có thể điều chỉnh Huyền Quan vào một phương vị như ý. Một phương vị mà khả dĩ ta có thể vẫn hài lòng trong điều kiện đất chật, người đông ở các thành phố. Nó cũng giúp ta có thêm giải pháp để tìm cách khắc phục “hướng khí” ở những nơi mà về mặt khách quan bị khống chế. Ví dụ ta ở khu nhà tập thể, ta ở các khu đất đã phân lô theo quy hoạch, ta ở các khu công nghiệp, khu chế xuất v.v... Ở những nơi này nó phải theo một quy chế quy hoạch, ta không còn quyền lực chọn “hướng khí” theo ý muốn của ta nữa. Ta chỉ còn dựa vào phép phong thuỷ để giúp giải quyết những thiếu sót hay những vấn đề hướng nhà, hướng cửa chính, hướng bếp, hướng bàn thờ cho hợp lý và đạt được những điều tốt hơn.

 

==> Xem thêm: Các hướng nhà cụ thể và hướng cửa chính hợp phong thủy

 

4. Cũng theo phép phong thuỷ

 

Nếu ta tỉ mỉ hơn và có điều kiện nữa, ta có thể tìm “phương vị cung”.“Phương vị cung” dựa trên la bàn. Một phương vị cung chỉ có 150 (trên mặt la bàn đã được chia thành 3600). Mỗi phương vị tốt, xấu có 450 lại được chia thành 3 phương vị cung. Do đó, mỗi phương vị cung chỉ có 150 nó tạo thành 24 “cung phương vị la bàn”.

 

Với cung phương vị, ta có thể xác định hướng nhà càng cụ thể và tỉ mỉ hơn. Song, nếu ta không có điều kiện, nói chính xác hơn là thực tế khách quan không cho phép ta cũng đừng băn khoăn mà chỉ cần chọn được một phần chính trong “hướng khí”: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông - Bắc, Tây - Nam, Tây - Bắc, Đông - Nam. Như vậy là tốt rồi.
Nhà hướng Càn, Huyền Quan nên mở ở phía Đông Nam hoặc phương Nam.

 

5. Ta không nhất thiết cứ phải cầu kỳ tìm kiếm cho được cung phương vị tốt trong 24 cung phương vị: Dần, Cấn, Sửu; Quý, Tý, Nhâm; Hợi, Càn, Tuất; Tân, Dậu, Canh; Thân, Khôn, Mùi; Đinh, Ngọ, Bính; Tỵ, Tốn, Thìn; Ất, Mão, Giáp.

 

Việc xác định được như vậy thì càng hay và ta càng hiểu chi tiết về tốt, xấu (cát, hung) của hướng nhà hay hướng Huyền Quan (cửa chính) trong việc định “hướng khí”.

 

Ví dụ: Hướng nhà (hướng lưng nhà) là Đông - Bắc, thì hướng Huyền Quan - hướng khí - hướng mặt tiền là Tây - Nam. Như vậy ta được “hướng khí” là Tây - Nam. Nó được đại diện là “Khôn” (ở chính cửa) đối với những ai là Nam giới sinh vào các năm: 1935, 1944, 1953, 1962 v.v... Và sinh vào các năm 1933, 1942, 1951, 1960, 1969 v.v... đối với nữ giới là chủ hộ. Như vậy là mãn nguyện rồi, là tốt rồi. Ta không nhất thiết phải chọn cho được một cung: Thân hay Khôn hay Mùi (3 cung phương vị này đều thuộc Tây - Nam) một cách quá tỷ mỉ. Thực ra, trong thực tế, ta không có nhiều điều mà ta có thể đạt được thật hoàn hảo.

 

Do vậy, các nhà phong thủy đã phải tìm giúp cho ta các cách, phép phong thủy để khắc chế về hướng nhằm đạt được điều mong muốn; tránh điều xấu, ví dụ như cách xoay hướng phòng ngủ hướng bếp, hướng bàn thờ, hoặc đặt các thứ như: đèn, sáo, khánh, gương, gương Bát quái v.v... (phần này sẽ nói cụ thể hơn nữa sau).

 

6. Trong “Bát Cẩm Trạch” (tám hướng phương vị tốt xấu), các nhà phong thuỷ thời xưa ở Trung Quốc đã tính bằng 8 quẻ theo thuyết Chu dịch. Đó là các quẻ: Khôn, Khảm, Ly, Cấn, Đoài, Càn, Tốn, Chấn - các quẻ trong “Bát Quái”. Mỗi quẻ cho ta đủ “tám phương vị” gồm các phương vị tốt (cát); các phương vị nửa tốt, nửa xấu (vừa cát, vừa hung); các phương vị xấu (hung) và các phương vị rất xấu (đại hung)...

 

Mỗi quẻ ứng với một số tuổi can chi trong 60 tuổi can chi liên hợp. Điều này lịch vạn sự có thể lý giải nghĩa là không một tuổi nào sinh ra mà không được quan tâm nghiên cứu để đề ra “hướng khí” áp dụng phù hợp với tuổi đó đủ các tuổi trong một “Hoa giáp” 60 năm.