Hạnh phúc giữa đời thường

Chủ nhật, 30/10/2016

Thứ tư là có tiền của nhiều cũng được coi là có hạnh phúc, nhưng điều này nguy hiểm, vì dễ sanh ra nghiệp ác.

Hạnh phúc giữa đời thường chúng ta nên hiểu thêm là hạnh phúc của người tu, của chư Thiên, của Bồ-tát và của Phật. Mỗi tầng lớp xã hội có quan niệm hạnh phúc khác nhau. Trước nhất, phải hiểu hạnh phúc là gì. Hạnh phúc là ghép hai chữ hạnh và phúc. Hạnh là may mắn, phúc là đầy đủ. Người gặp may mắn và có đầy đủ mong ước, muốn gì cũng được, gọi là có hạnh phúc. Người không gặp may mắn và ước mơ nhiều nhưng không bao giờ được, gọi là bất hạnh.

hanh-phuc-doi-thuong

Người Trung Quốc viết chữ phúc gồm có chữ y là áo, với chữ nhất, chữ khẩu và chữ điền, gộp lại nghĩa là người có phước thì có đầy đủ cơm ăn, áo mặc. Người xưa quan niệm hạnh phúc là như vậy, vì nếu thiếu cơm ăn, áo mặc là khổ. Ngoài cơm ăn, áo mặc, còn phải có chỗ ở, đây là nhu cầu vật chất tối thiểu mà một người phải có trong cuộc sống. Có đầy đủ cơm ăn, áo mặc và chỗ ở là có hạnh phúc; nếu thiếu ba thứ này gọi là bất hạnh.

Về cơm ăn, áo mặc, lúc đầu người ta chỉ cần ăn đủ no, mặc đủ ấm thôi là hai nhu cầu chính của con người; nhưng khi con người đã được no cơm ấm áo, thì họ lại có nhu cầu cao hơn là ăn ngon, mặc đẹp và chỗ ở sang trọng thì mới được coi là hạnh phúc.

Tuy nhiên, khi cơm ăn, áo mặc và chỗ ở hoàn toàn tốt đẹp rồi, người ta thấy vẫn chưa có hạnh phúc, vì tâm lý con người lại nảy sinh việc khác nữa là yếu tố tình cảm bên trong. Thực tế cho thấy người giàu có hay người có địa vị hoàn toàn đầy đủ cơm áo và chỗ ở sang trọng, nhưng họ không được hạnh phúc, họ vẫn bị đau khổ. Như vậy, khi nào con người được thỏa mãn cái họ ham muốn thì mới thấy hạnh phúc, chưa thỏa mãn thì vẫn cho là bất hạnh. Như vậy, hạnh phúc và bất hạnh nằm trong chữ ham muốn.

Đức Phật thành đạo, Ngài quán sát kỹ thấy chúng sanh trong sáu đường sinh tử, từ người giàu nhất cho đến người nghèo nhất, hay từ cõi trời Hữu Đảnh xuống đến địa ngục A tỳ, Phật nói trong kinh Pháp hoa rằng chúng sinh thiệt không có sinh tử, nhưng vì vô minh, vọng kiến ngăn che, nên sanh các tánh ham muốn khác nhau, mới tạo nghiệp khác nhau, mới có sáu đường sinh tử. Như vậy, cái gốc của khổ đau trong sáu đường sinh tử là do tánh ham muốn khác nhau và tạo nghiệp khác nhau.

Khi Phật dẫn đoàn Tỳ-kheo đi khất thực, trên đường đi, gặp người chủ trang trại giàu có bị mất bò. Ông đi tìm bò với nét mặt tuyệt vọng, thậm chí ông muốn tự tử. Phật mới nói với các Tỳ-kheo rằng các thầy hạnh phúc hơn ông chủ nông trại, vì không có gì để mất, nghĩa là trong lòng các thầy không còn ham muốn, nên không có một vật trong tay, nhưng cảm thấy an lạc, hạnh phúc.

 

 

Hạnh phúc đặt ra ở đây là sự an lạc trong lòng, còn cơm ăn, áo mặc, nhà ở là thứ yếu. Vì vậy, Phật tử thường chúc nhau được tâm an lạc. Có tâm an lạc thì giàu hay nghèo cũng đều hạnh phúc giữa đời thường.

Hạnh phúc chính yếu của chúng ta là tâm an lạc. Tâm an lạc này phát xuất từ tâm không mong cầu, không ham muốn. Cho nên đạo Phật chủ trương diệt dục là diệt lòng ham muốn. Có người nói nếu không ham muốn thì không hạnh phúc, vì có ham muốn và được thỏa mãn mới gọi là hạnh phúc. Nhưng ham muốn được thỏa mãn mà gọi là hạnh phúc thì hạnh phúc này luôn đi theo bất hạnh, vì lòng ham muốn luôn tăng trưởng, ham muốn sau luôn cao hơn ham muốn trước, mà phước báo thì lại giảm lần.

Vì vậy, người đang hưởng phước báo ở cõi Trời, ban đầu được thỏa mãn 100%, kế tiếp ham muốn được thỏa mãn tuột xuống còn 90, 80%, cho đến không được thỏa mãn gì nữa thì rơi xuống địa ngục. Vì ham muốn càng cao phải đáp ứng nhu cầu càng lớn, trong khi năng lực ta lại càng kém đi, nên hai điều này luôn tỷ lệ nghịch với nhau. Con người tạo nghiệp sai biệt để thỏa mãn lòng ham muốn, nhưng không thỏa mãn được thì rơi vào bất hạnh; đó là hạnh phúc thế gian luôn đi liền với bất hạnh, cho nên cuộc sống luôn thay đổi trong sáu đường sinh tử của chúng sinh.

Theo Phật, chúng ta tìm hạnh phúc chân thật gọi là Niết-bàn, còn hạnh phúc của thế gian để rồi khổ đau đi liền theo sau:

Vui trong tham dục, vui rồi khổ

Khổ để tu hành, khổ hóa vui.

Riêng tôi, nhờ hiểu lời Phật dạy và áp dụng trong cuộc sống, tìm thấy hạnh phúc trong lúc không có cơm ăn, áo mặc, vì tôi không ganh tức với những người xung quanh, nên lòng sân hận không sanh ra. Tôi nghĩ họ có đời sống cao hơn mình, vì có cha mẹ cho, hay có bà con làm ăn khá; còn phước mình mỏng thì phải cố gắng tu tập, phấn đấu đi lên để tạo phước. Vì vậy, tôi luôn cắt giảm lòng ham muốn, nhưng tăng trưởng công đức lành. Phật dạy một câu đơn giản nhưng rất có ý nghĩa là bỏ điều ác, siêng năng làm điều lành, hạnh phúc sẽ tới.

Trong đời thường, tất cả chúng ta đều có thể tạo cho mình hạnh phúc. Hạnh phúc này do lòng tốt của chúng ta sanh ra và do diệt trừ những tánh xấu. Khi quý vị khởi tâm từ thương chúng sinh, ẩn tu trong hang núi, sống với các loài dã thú, ta cho nó thức ăn thừa, thấy nó vui, ta cũng vui. Phật dạy các Tỳ-kheo tu trong pháp Phật phải thương chúng sinh và phải hành bố thí, nghĩa là chúng ta có nhiều thức ăn nên chia sẻ cho những người không có, thì ta có thêm một người bạn tốt. Và quý vị thấy trên thực tế bên cạnh chúng ta có bạn tốt, chúng ta hạnh phúc chứ. Còn nếu chúng ta giàu có, nhưng người xung quanh muốn cướp của, muốn giết ta, làm sao hạnh phúc được. Chúng ta tuy nghèo, nhưng có bạn tốt, vẫn hạnh phúc.

Bồ-tát luôn có hạnh phúc, vì các Ngài thương người và bố thí. Tôi đọc câu chuyện Quan Âm ngàn mắt ngàn tay nói rằng thuở quá khứ xa xưa, Ngài là một ác quỷ, tức luôn tìm hạnh phúc cho mình trên cái bất hạnh, khổ đau của người khác. Làm những hành động ác để thỏa mãn yêu cầu của mình, nên sẵn sàng giết người, cướp của, thỏa mãn thú tính thì làm sao có hạnh phúc được. Người ác như vậy, nên ai cũng sợ, cũng tránh khiến người này rơi vô sự cô đơn cùng cực, may được gặp Đức Phật thuyết pháp cho nghe. Người này tự thay đổi cuộc sống và tìm thấy hạnh phúc trong từng hành động, cho đến được hạnh phúc hoàn toàn, trở thành Bồ-tát Quan Âm.

Từ tìm hạnh phúc bằng cách gây bất hạnh cho người, theo Phật, đổi thành mang hạnh phúc cho người. Cứu được một người thì vị này có thêm một người bạn tốt, nghĩa là có thêm hai tay, hai mắt, khác với trước kia hại người nên bị cô lập. Cho đến giúp được 100 người thì có thêm được 200 tay, 200 mắt và cứu giúp được 1000 người, nên có ngàn người làm tay mắt cho Đức Quan Âm, biến người từ ác quỷ trở thành đa năng, tức có nhiều người bạn hợp tác, nên làm được việc lớn. Tượng Quan Âm ngàn mắt ngàn tay trên đầu luôn có Phật ngự trị, nghĩa là Bồ-tát Quan Âm làm tất cả mọi việc đều có trí tuệ chỉ đạo. Làm theoPhật dạy thì Bồ-tát Quan Âm có hạnh phúc là Ngài được tất cả mọi người thương quý, kính trọng. Cho nên trong kinh Phổ môn nói rằng ai cũng muốn thấy Ngài, thương Ngài, nên Ngài có tên là Quan Âm.

Chỉ thay đổi tư duy của chúng ta để thấy hạnh phúc trong đời thường. Tuy chúng ta nghèo, nhưng có thể giúp người nghèo hơn, sẵn sàng làm bất cứ việc gì mà người an lạc. Đức Phật đã làm như vậy và Ngài dạy chúng ta như vậy. Phật được hạnh phúc hoàn toàn, được Niết bàn giữa trần gian là hạnh phúc giữa đời thường. Trên bước đường giáo hóa độ sanh, Đức Phật đã bế một con nai què cho nó theo kịp nai mẹ, Ngài cũng hạnh phúc vì đã giúp được con vật nhỏ bé. Phật sống rất bình thường, nhưng chúng ta thấy Ngài rất cao thượng.

Nhìn lại quá khứ hành đạo của Phật, Ngài đến đâu cũng mang an vui, không gây khổ đau cho ai, nên Ngài có hạnh phúc nhất giữa đời thường và khi tịch diệt Ngài cũng ở trạng thái an lạc nhất. Bước theo dấu chân Phật, làm theo Phật, chắc chắn hạnh phúc sẽ đến với chúng ta trong cuộc sống đời thường và thậm chí trong giấc mơ, chúng ta cũng được hạnh phúc. Còn nếu tạo nghiệp ác thì kiếm tiền rất cực khổ, nhưng chi hết số tiền có được cũng rất nhanh và khi sức lực tinh thần hao mòn, tham vọng lại càng lên cao, nên không thỏa mãn được, liền đau khổ vô cùng là đọa địa ngục.

Trở lại đời thường, Phật tử không khởi lòng tham, nhưng biết cách sống nghĩa là hưởng thụ đồng tiền kiếm được một cách chân chánh, phải biết sắp xếp cuộc sống bằng cách kiếm được nhiều tiền thì chi nhiều, kiếm ít thì chi ít, hay tốt hơn nữa là kiếm nhiều nhưng chi ít sẽ dễ tới gần hạnh phúc hơn. Còn kiếm ít mà chi nhiều, bất hạnh đến với chúng ta mau hơn. Phật dạy nếu là người nghèo khổ nhất, nên chi trong phước báo của mình thôi, đừng vượt mức cho phép. Nhưng khá hơn, chúng ta bớt nhu cầu lại để tương lai còn thặng dư giúp người khác thì ta sẽ tạo được phước.

Tâm Phật luôn trải rộng, thương tất cả mọi người, mọi loài. Tập từ bi theo Phật, chúng ta cho cá ăn bánh mì, thấy nó quẫy đuôi vui mừng khiến ta cũng vui theo; như vậy lấy niềm vui của chúng sinh làm niềm vui của mình, mang an vui cho người, cho tất cả mọi loài, đó là hạnh phúc chân thật.

Nếu biết sống theo lời Phật dạy, sẽ tìm thấy hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh và từ đây nâng lên, đoạn một phần nghiệp ác thì một phần công đức sanh ra. Hai điều này tỷ lệ thuận với nhau. Người tu đúng như vậy, ban đầu nghèo, sau trở thành khá giả, ban đầu bệnh hoạn, sau trở thành khỏe mạnh; nghĩa là nghiệp giảm, phước sanh.

Đầu tiên chúng ta có tâm an lạc, dù chưa có bạn tốt, chưa có tiền, chưa có sức khỏe, nhưng tâm được an lạc trong giáo pháp của Phật là hạnh phúc nhất. Nhưng khá hơn, không có tham vọng, tâm được an lạc, nên ngủ được yên giấc thì thân thể cân bằng, bệnh tật không sanh ra. Thật vậy, bệnh sanh phần lớn do não bộ làm việc quá sức, nhưng bây giờ tâm an lạc, cơ thể tự điều chỉnh, nên bệnh không sanh. Tâm an lạc tạo cho cơ thể khỏe mạnh. Tâm không tham cầu, không có ý thức ăn nhiều, ăn ngon, nên chất độc không đem vào cơ thể.

Những gì cần cho sức khỏe, chúng ta ăn; không cần thì không ăn, nên bệnh cũng hết. Người ăn nhiều chất béo, chất ngọt, bị béo phì, bị nhiều bệnh. Nhưng tâm an lạc, ăn uống đơn giản, mà bệnh không sanh. Thân không bệnh, tâm an lạc, và ngược lại tâm an lạc, thân không bệnh, hai điều này bổ sung nhau. Chúng ta không có nhu cầu nhiều, nên không phải nỗ lực làm đến 16 tiếng, chỉ làm 8 tiếng và tự điều chỉnh cơ thể được. Không làm nhiều, không phải ăn nhiều, nên có thì giờ cho thân xác nghỉ ngơi và tinh thần cũng được nghỉ ngơi, cơ thể theo đó trở thành cân bằng và tâm lý cũng ổn định, là tìm được hạnh phúc, vì tâm an, thân khỏe.

Ngoài ra, không lừa dối, không nhờ cậy, nhưng giúp đỡ người, nên người thương ta hơn là hạnh phúc giữa đời thường. Tôi đến đâu được người thương, thì tôi sung sướng quá. Tôi ra Tuy Hòa, nơi Bồ-tát Quảng Đức xuất gia, ở đó có hàng ngàn Phật tử tập họp nghe tôi thuyết pháp. Đó là hạnh phúc lớn. Cho ăn nhiều không thấy hạnh phúc, nhưng thấy người thương quý, ta có nhiều bạn bè tốt giúp ta tu được, đó là hạnh phúc thứ ba sanh ra trong đời thường.

Thứ tư là có tiền của nhiều cũng được coi là có hạnh phúc, nhưng điều này nguy hiểm, vì dễ sanh ra nghiệp ác. Vì vậy, nên sử dụng đồng tiền chân chánh để làm việc nghĩa; đó là hạnh phúc được chúng ta nhân rộng lần, vì chúng ta đã cưu mang, giúp đỡ người thì sẽ có hạnh phúc.

Hạnh phúc thứ năm là trí tuệ, tức hiểu biết của chúng ta mỗi ngày một rộng thêm, nhìn thấy sự việc gì cũng thông suốt. Và cuối cùng, chúng ta hiểu biết như Phật, biết sáu đường sinh tử thực không có sinh tử, nhưng vì vô minh vọng kiến ngăn che, sanh ra các tánh ham muốn khác nhau, nên tạo tội sai biệt, mới khổ đau sinh tử. Biết rõ như vậy, chúng ta xả thân hành đạo trong sinh tử để cứu độ chúng sinh, đưa tất cả mọi người về Niết-bàn. Thành tựu viên mãn hạnh nguyện giáo hóa độ sanh, chúng ta có Niết-bàn là hạnh phúc chân thật vĩnh cửu.

HT. THÍCH TRÍ QUẢNG